RELIPOREX 2000 IU

Rx — Thuốc kê đơn

Thông tin trên trang này dành cho cán bộ y tế, đơn vị mua sắm và đối tác phù hợp. Việc sử dụng thuốc cần theo chỉ định và hướng dẫn chuyên môn.
Hoạt chất - hàm lượng Recombinant Human Erythropoietin Alfa - 2000 IU/ 0,5 ml
Dạng bào chế - quy cách Dung dịch tiêm - Hộp 1 bơm tiêm đóng sẵn x 0,5ml
Nhà sản xuất /đơn vị phân phối Reliance Life Sciences Pvt. Ltd/ Công ty cổ phần Dược Newsun
Tóm tắt 30 giây Reliporex 2000 IU chứa erythropoietin alfa tái tổ hợp, một glycoprotein gồm 165 acid amin được sản xuất bằng công nghệ DNA tái tổ hợp trên tế bào động vật có vú. Hoạt chất có cấu trúc và tác dụng sinh học tương tự erythropoietin tự nhiên, giúp kích thích tạo hồng cầu và cải thiện tình trạng thiếu máu.
+
-

Đã thêm vào giỏ

Thông tin sản phẩm

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG

Cơ chế tác dụng
Chỉ định tại Việt Nam
Liều dùng và cách dùng
Đối tường đặc biệt
Chống chỉ định - thận trọng
ADR
Tương tác thuốc

Cơ chế tác dụng

Thuốc tác dụng tương tự như erythropoietin nội sinh, chủ yếu lên quá trình tạo hồng cầu do kích thích phát triển và biệt hóa các tế bào tủy xương tạo hồng cầu thông qua gắn với các receptor ở màng tế bào. Cụ thể, sau khi gắn với receptor, các epoetin có thể kích thích tổng hợp acid nucleic để tế bào tủy xương phân chia; đồng thời có thể ức chế những tế bào này chết theo chương trình khiến các tế bào tủy xương tiếp tục phát triển và biệt hóa thành hồng cầu. Thuốc cũng kích thích giải phóng hồng cầu lưới từ tủy xương vào máu để phát triển thành hồng cầu trưởng thành.

Chỉ định tại Việt Nam 

Thiếu máu ở những bệnh nhân suy thận mãn ở người lớn được thẩm phân lọc máu, thẩm phân phúc mạc và người lớn không thẩm phân
Điều trị thiếu máu ở bệnh nhân ung thư được hóa trị
Điều trị thiếu máu ở những bệnh nhân nhiễm HIV dùng Zidovudine
Làm giảm truyền máu dị sinh ở những bệnh nhân phẫu thuật

Liều dùng và cách dùng

Tác dụng điều trị của erythropoietin phụ thuộc vào liều; tuy nhiên liều cao hơn 300 đơn vị/kg, tuần ba lần không cho kết quả tốt hơn. Liều erythropoietin tối đa an toàn chưa được xác định. Dùng thêm sắt hoặc L-carnitin làm tăng đáp ứng với erythropoietin, do đó có thể giảm liều thuốc cần dùng để kích thích tạo hồng cầu.
Thiếu máu ở người bệnh suy thận mạn tính: Điều trị thiếu máu bằng erythropoietin cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh nhưng rất tốn kém.
- Tiêm tĩnh mạch: Liều ban đầu thường dùng là 50 - 100 đơn vị/kg, tuần ba lần. Cần giảm liều erythropoietin khi hematocrit đạt mức 30% tới 36% hay khi cứ mỗi hai tuần thì hematocrit tăng lên được trên 4%. Nếu sau 8 tuần điều trị mà hematocrit không tăng lên được 5 đến 6% và vẫn thấp hơn mức cần đạt thì cần phải tăng liều. Hematocrit không được tăng cao hơn 36%. Cần tính toán liều theo từng người bệnh; liều duy trì là từ 12,5 đến 525 đơn vị/kg, tuần ba lần. Liều dùng để điều trị thiếu máu ở người bệnh mắc bệnh thận ở giai đoạn cuối là từ 3 đơn vị/kg/liều đến 500 đơn vị/kg/liều, tuần ba lần; bắt đầu với liều thấp rồi tăng dần từng nấc tùy theo đáp ứng huyết học. Liều có thể tăng gấp hai lần liều trước và cách nhau từ 1 đến 2 tuần.
- Tiêm dưới da: Erythropoietin thường được dùng với liều ban đầu từ 50 - 100 đơn vị/kg, tuần ba lần. Cần giảm liều erythropoietin khi hematocrit đạt mức 30% tới 36% hay tăng trên 4% trong vòng 2 tuần. Cần phải tăng liều nếu sau 8 tuần điều trị mà hematocrit không tăng được 5 đến 6% và vẫn thấp hơn mức cần đạt. Hematocrit tăng phụ thuộc vào liều nhưng dùng liều cao hơn 300 đơn vị/kg, tuần ba lần cũng không cho kết quả tốt hơn. Cần tính liều theo từng trường hợp; mỗi tháng không nên thay đổi liều quá 1 lần, trừ khi có chỉ định lâm sàng. Có thể giảm liều duy trì mỗi tuần xuống từ 23% đến 52% khi tiêm dưới da hơn là tĩnh mạch. Liều tiêm dưới da để duy trì nồng độ hemoglobin ở mức 9,4 đến 10 g/decilít là từ 2800 đến 6720 đơn vị mỗi tuần; so với 8350 đến 20300 đơn vị mỗi tuần khi tiêm tĩnh mạch.
Erythropoietin có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch; nên dùng đường tĩnh mạch ở người bệnh phải thẩm phân. Tiêm dưới da phải mất nhiều ngày hơn để đạt tới nồng độ hemoglobin cần đạt so với tiêm tĩnh mạch.
Cũng có thể tiêm erythropoietin vào bắp thịt (cơ delta) với liều từ 4000 đến 8000 đơn vị, tuần một lần; hematocrit có thể tăng lên 30% đến 33%. Tiêm bắp ít đau hơn tiêm dưới da.
Liều khuyên dùng ở trẻ: Liều dùng ban đầu là 150 đơn vị/kg tiêm dưới da, tuần 3 lần; nếu hematocrit tăng lên đến mức 35%, giảm liều từng nấc 25 đơn vị/kg/liều và ngừng dùng thuốc nếu hematocrit đạt tới mức 40%. Cách dùng này an toàn và hiệu quả đối với trẻ em suy thận giai đoạn cuối thẩm phân màng bụng.
Điều chỉnh liều trong khi thẩm phân
- Lọc máu: Erythropoietin được dùng 12 giờ sau khi chạy thận nhân tạo xong.
- Thẩm phân phúc mạc: Cách dùng hữu hiệu là dùng thuốc một, hai hoặc ba lần một tuần. Sau khi dùng 2000 đến 8000 đơn vị, mỗi tuần một lần trong thời gian từ 2 đến 10 tháng, trung bình hematocrit tăng lên từ 20% đến 30%. Hoặc có thể dùng liều từ 60 đến 120 đơn vị/kg tiêm dưới da một tuần hai lần. Liều tiếp sau đó phải dựa theo đáp ứng hemoglobin. Liều cần dùng để duy trì nồng độ hemoglobin ở mức từ 11 đến 11,5 g/decilít là từ 12,5 đến 50 đơn vị/kg, 3 lần/tuần.
Khả dụng sinh học của erythropoietin dùng theo đường tiêm dưới da (22%) gấp 7 lần đường tiêm vào phúc mạc (3%); 3 đến 4 ngày sau khi tiêm dưới da, thuốc vẫn còn trong huyết thanh.
Thiếu máu ở người bệnh điều trị bằng Zidovudin
Liều ban đầu được khuyên dùng để điều trị thiếu máu cho người bệnh nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin là 100 đơn vị/kg tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da, 3 lần/tuần trong 8 tuần. Nếu sau 8 tuần mà kết quả chưa tốt thì có thể tăng thêm từ 50 đến 100 đơn vị cho mỗi kg, 3 lần/tuần.
Thiếu máu do hóa trị liệu ung thư
Cần phải bắt đầu với liều 150 đơn vị/kg tiêm dưới da, ba lần/tuần. Nếu sau 8 tuần mà kết quả chưa tốt thì có thể tăng liều lên tới mức 300 đơn vị/kg. Dùng liều cao hơn cũng không tăng hiệu quả. Trong quá trình điều trị, nếu hematocrit cao hơn 40% thì phải tạm ngừng dùng erythropoietin cho đến khi hematocrit giảm xuống thấp hơn 36%, sau đó cần giảm 25% liều và điều chỉnh lại.
Người bệnh phẫu thuật
Erythropoietin được chỉ định để điều trị người bệnh thiếu máu (hemoglobin từ 10 đến 13 g/decilít) chuẩn bị phẫu thuật chọn lọc (không phải tim hoặc mạch máu) nhằm giảm nhu cầu phải truyền máu dị gen; hoặc người bệnh có nguy cơ cao mất máu nhiều cần phải được truyền máu trước, trong, và sau phẫu thuật. Liều khuyên dùng là 300 đơn vị/kg/ngày, tiêm dưới da 10 ngày trước khi mổ, vào hôm mổ và 4 ngày sau phẫu thuật. Một cách khác là tiêm dưới da 600 đơn vị/kg, tuần một lần (trước ngày mổ 21, 14, và 7 ngày) thêm liều thứ tư vào hôm mổ. Cần phải bổ sung sắt.
Erythropoietin tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch (300 đơn vị/kg/ngày cho đến khi có đáp ứng thích hợp, sau đó 150 đơn vị/kg cách một ngày) trong 3 đến 10 ngày, kết hợp với folat, cyanocobalamin, uống hoặc tiêm sắt và tăng cường dinh dưỡng có thể làm hemoglobin hay hematocrit tăng mỗi ngày lên 5% hoặc hơn nữa.
Với những người bệnh bị thiếu máu rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng mà không muốn hoặc không thể truyền máu được thì vẫn có thể cho dùng erythropoietin, mặc dù điều này chỉ có ý nghĩa nhân đạo vì không có gì đảm bảo trước là người bệnh có thể hồi phục.
Cách dùng
Không lắc mạnh vì lắc mạnh có thể làm biến chất glycoprotein, làm cho nó mất hoạt tính sinh học. Dùng kỹ thuật vô trùng trong khi tiêm thuốc. Bỏ phần chưa dùng hết, không pha loãng hoặc dùng với các dung dịch khác.

 

Đối tường đặc biệt

Phụ nữ có thai và cho con bú 
Thai nghén: Mang thai loại C: Chưa có những nghiên cứu thỏa đáng và đối chứng tốt ở phụ nữ mang thai. Erythropoietin chỉ dùng trong khi mang thai khi lợi ích mang lại cho bà mẹ cao hơn nguy cơ cho thai nhi.
Bà mẹ nuôi con bú: Không rõ erythropoietin có qua được sữa mẹ hay không. Vì nhiều thuốc qua được sữa mẹ, nên thận trọng khi dùng erythropoietin cho bà mẹ nuôi con bú.
Sử dụng trên bệnh nhân Bệnh thận mạn
Những bệnh nhân suy thận mãn không cần thẩm phân: Phải kiểm tra huyết áp và hematocrit cũng thường xuyên như những bệnh nhân thẩm phân.
Huyết học: Phải có đủ thời gian để xác định đáp ứng của một bệnh nhân đáp ứng với liều erythropoietin trước khi điều chỉnh liều vì thời gian cần thiết để tạo hồng cầu và thời gian bán thải của hồng cầu, nên phải cần 2-6 tuần để điều chỉnh liều (bắt đầu, tăng, giảm, hoặc ngừng) và thay đổi quan trọng trong hematocrit.
Xét nghiệm: Nên đo hematocrit hai lần một tuần cho đến khi ổn định trong dãy liều đề nghị và xác định liều duy trì. Sau đó kiểm tra hematocrit thường xuyên. Kiểm tra công thức máu đầy đủ với từng loại huyết cầu và tiểu cầu trong suốt nghiên cứu lâm sàng. Đã gặp sự tăng nhẹ tiểu cầu và bạch cầu. Mặc dù những thay đổi này có ý nghĩa thống kê, nhưng không có ý nghĩa lâm sàng và các trị số vẫn nằm trong dãy bình thường. Ở những bệnh nhân suy thận mãn, những trị số hóa học huyết thanh (kể cả nitơ [BUN], acid uric, creatinine, phosphor, và kali) phải được kiểm tra thường xuyên.
Ăn kiêng: Khi hematocrit tăng và bệnh nhân cảm thấy tăng hạnh phúc và chất lượng cuộc sống, tầm quan trọng của sự tuân thủ với thẩm phân và chế độ ăn kiêng gia tăng. Đặc biệt, không thấy chứng tăng kali máu ở bệnh nhân suy thận mãn.
Quản lý sự thẩm phân: Điều trị bằng erythropoietin làm tăng hematocrit và giảm thể tích huyết tương, có thể ảnh hưởng đến hiệu suất thẩm phân. Trong khi thẩm phân lọc máu, bệnh nhân điều trị bằng erythropoietin có thể cần phải dùng heparin để dự phòng cục máu đông do chạy thận nhân tạo.
Chức năng thận: Ở những bệnh nhân CRF không thẩm phân, phải kiểm tra kỹ chức năng thận, cân bằng điện giải và dịch, vì cảm giác cải thiện hạnh phúc có thể làm một số bệnh nhân bắt đầu thẩm phân.

Chống chỉ định - thận trọng

Chống chỉ định
Cao huyết áp không kiểm soát được
Đã biết quá mẫn với những sản phẩm lấy từ tế bào động vật có vú.
Đã biết quá mẫn với Albumin (Người).
Thận trọng 
Phải thận trọng khi tiêm các sản phẩm sinh học trong trường hợp dị ứng hoặc các phản ứng không mong muốn khác trong các nghiên cứu lâm sàng, mặc dù đôi khi gặp nổi mẩn thoáng qua khi điều trị đồng thời erythropoietin; nhưng không gặp phản ứng sốc phản vệ nào.
Độ an toàn và hiệu quả của điều trị erythropoietin chưa được thiết lập ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc bệnh máu (ví dụ, thiếu máu tế bào hình liềm, hội chứng loạn sản tủy, hoặc rối loạn tăng đông máu).
Huyết học: Hiếm gặp sự trở nặng của chứng rối loạn chuyển hóa porphyrin hiếm khi gặp ở những bệnh nhân CRF điều trị bằng erythropoietin. Erythropoietin phải được dùng thận trọng ở những bệnh nhân đã biết rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Đáp ứng chậm hoặc giảm
Nếu bệnh nhân không đáp ứng hoặc duy trì đáp ứng với những liều trong dãy liều cho phép, phải cân nhắc và đánh giá những nguyên sinh bệnh sau đây:
Suy giảm sắt: Trên thực tế các bệnh nhân cuối cùng cũng cần điều trị bổ sung sắt.
Những quá trình nhiễm trùng, viêm, hoặc ác tính.
Mất máu không rõ nguyên nhân.
Bệnh máu (như thiếu máu vùng biển, thiếu máu khó trị, hoặc loạn sản tủy).
Suy giảm Vitamin: acid folic hoặc vitamin B₁₂.
Tán huyết.
Nhiễm độc nhôm.
Đánh giá sắt
Sự bão hòa transferrin ít nhất phải 20% và ferritin ít nhất 100 ng/mL. Trước khi bắt đầu và trong khi điều trị erythropoietin, phải đánh giá tình trạng sắt của bệnh nhân, kể cả sự bão hòa transferrin (sắt trong huyết thanh được phân chia bởi khả năng gắn với sắt). Trên thực tế các bệnh nhân cuối cùng cũng cần điều trị bổ sung sắt để làm tăng hoặc duy trì sự bão hòa transferrin, sẽ hỗ trợ đầy đủ sự tạo hồng cầu được kích thích bởi erythropoietin.

ADR

Tác dụng không mong muốn tương đối nhẹ và thường phụ thuộc vào liều. Tiêm tĩnh mạch hay gây ra tác dụng phụ hơn tiêm dưới da.
Thường gặp, ADR > 1/100
Toàn thân: Nhức đầu, phù, ớn lạnh và đau xương (triệu chứng giống cảm cúm) chủ yếu ở vào mũi tiêm tĩnh mạch đầu tiên.
Tuần hoàn: Tăng huyết áp, huyết khối nơi tiêm tĩnh mạch, cục đông máu trong máy thẩm tích, tiểu cầu tăng nhất thời.
Máu: Thay đổi quá nhanh về hematocrit, tăng kali huyết.
Thần kinh: Chuột rút, cơn động kinh toàn thể.
Da: Kích ứng tại chỗ, trứng cá, đau ở chỗ tiêm dưới da.
Hiếm gặp, ADR < 1/1000
Tuần hoàn: Tăng tiểu cầu, cơn đau thắt ngực.
Vã mồ hôi.

Tương tác thuốc

Không có bằng chứng về sự tương tác của erythropoietin với các thuốc khác trong những nghiên cứu lâm sàng.

Cơ chế tác dụng

Thuốc tác dụng tương tự như erythropoietin nội sinh, chủ yếu lên quá trình tạo hồng cầu do kích thích phát triển và biệt hóa các tế bào tủy xương tạo hồng cầu thông qua gắn với các receptor ở màng tế bào. Cụ thể, sau khi gắn với receptor, các epoetin có thể kích thích tổng hợp acid nucleic để tế bào tủy xương phân chia; đồng thời có thể ức chế những tế bào này chết theo chương trình khiến các tế bào tủy xương tiếp tục phát triển và biệt hóa thành hồng cầu. Thuốc cũng kích thích giải phóng hồng cầu lưới từ tủy xương vào máu để phát triển thành hồng cầu trưởng thành.

Chỉ định tại Việt Nam 

Thiếu máu ở những bệnh nhân suy thận mãn ở người lớn được thẩm phân lọc máu, thẩm phân phúc mạc và người lớn không thẩm phân
Điều trị thiếu máu ở bệnh nhân ung thư được hóa trị
Điều trị thiếu máu ở những bệnh nhân nhiễm HIV dùng Zidovudine
Làm giảm truyền máu dị sinh ở những bệnh nhân phẫu thuật

Liều dùng và cách dùng

Tác dụng điều trị của erythropoietin phụ thuộc vào liều; tuy nhiên liều cao hơn 300 đơn vị/kg, tuần ba lần không cho kết quả tốt hơn. Liều erythropoietin tối đa an toàn chưa được xác định. Dùng thêm sắt hoặc L-carnitin làm tăng đáp ứng với erythropoietin, do đó có thể giảm liều thuốc cần dùng để kích thích tạo hồng cầu.
Thiếu máu ở người bệnh suy thận mạn tính: Điều trị thiếu máu bằng erythropoietin cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh nhưng rất tốn kém.
- Tiêm tĩnh mạch: Liều ban đầu thường dùng là 50 - 100 đơn vị/kg, tuần ba lần. Cần giảm liều erythropoietin khi hematocrit đạt mức 30% tới 36% hay khi cứ mỗi hai tuần thì hematocrit tăng lên được trên 4%. Nếu sau 8 tuần điều trị mà hematocrit không tăng lên được 5 đến 6% và vẫn thấp hơn mức cần đạt thì cần phải tăng liều. Hematocrit không được tăng cao hơn 36%. Cần tính toán liều theo từng người bệnh; liều duy trì là từ 12,5 đến 525 đơn vị/kg, tuần ba lần. Liều dùng để điều trị thiếu máu ở người bệnh mắc bệnh thận ở giai đoạn cuối là từ 3 đơn vị/kg/liều đến 500 đơn vị/kg/liều, tuần ba lần; bắt đầu với liều thấp rồi tăng dần từng nấc tùy theo đáp ứng huyết học. Liều có thể tăng gấp hai lần liều trước và cách nhau từ 1 đến 2 tuần.
- Tiêm dưới da: Erythropoietin thường được dùng với liều ban đầu từ 50 - 100 đơn vị/kg, tuần ba lần. Cần giảm liều erythropoietin khi hematocrit đạt mức 30% tới 36% hay tăng trên 4% trong vòng 2 tuần. Cần phải tăng liều nếu sau 8 tuần điều trị mà hematocrit không tăng được 5 đến 6% và vẫn thấp hơn mức cần đạt. Hematocrit tăng phụ thuộc vào liều nhưng dùng liều cao hơn 300 đơn vị/kg, tuần ba lần cũng không cho kết quả tốt hơn. Cần tính liều theo từng trường hợp; mỗi tháng không nên thay đổi liều quá 1 lần, trừ khi có chỉ định lâm sàng. Có thể giảm liều duy trì mỗi tuần xuống từ 23% đến 52% khi tiêm dưới da hơn là tĩnh mạch. Liều tiêm dưới da để duy trì nồng độ hemoglobin ở mức 9,4 đến 10 g/decilít là từ 2800 đến 6720 đơn vị mỗi tuần; so với 8350 đến 20300 đơn vị mỗi tuần khi tiêm tĩnh mạch.
Erythropoietin có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch; nên dùng đường tĩnh mạch ở người bệnh phải thẩm phân. Tiêm dưới da phải mất nhiều ngày hơn để đạt tới nồng độ hemoglobin cần đạt so với tiêm tĩnh mạch.
Cũng có thể tiêm erythropoietin vào bắp thịt (cơ delta) với liều từ 4000 đến 8000 đơn vị, tuần một lần; hematocrit có thể tăng lên 30% đến 33%. Tiêm bắp ít đau hơn tiêm dưới da.
Liều khuyên dùng ở trẻ: Liều dùng ban đầu là 150 đơn vị/kg tiêm dưới da, tuần 3 lần; nếu hematocrit tăng lên đến mức 35%, giảm liều từng nấc 25 đơn vị/kg/liều và ngừng dùng thuốc nếu hematocrit đạt tới mức 40%. Cách dùng này an toàn và hiệu quả đối với trẻ em suy thận giai đoạn cuối thẩm phân màng bụng.
Điều chỉnh liều trong khi thẩm phân
- Lọc máu: Erythropoietin được dùng 12 giờ sau khi chạy thận nhân tạo xong.
- Thẩm phân phúc mạc: Cách dùng hữu hiệu là dùng thuốc một, hai hoặc ba lần một tuần. Sau khi dùng 2000 đến 8000 đơn vị, mỗi tuần một lần trong thời gian từ 2 đến 10 tháng, trung bình hematocrit tăng lên từ 20% đến 30%. Hoặc có thể dùng liều từ 60 đến 120 đơn vị/kg tiêm dưới da một tuần hai lần. Liều tiếp sau đó phải dựa theo đáp ứng hemoglobin. Liều cần dùng để duy trì nồng độ hemoglobin ở mức từ 11 đến 11,5 g/decilít là từ 12,5 đến 50 đơn vị/kg, 3 lần/tuần.
Khả dụng sinh học của erythropoietin dùng theo đường tiêm dưới da (22%) gấp 7 lần đường tiêm vào phúc mạc (3%); 3 đến 4 ngày sau khi tiêm dưới da, thuốc vẫn còn trong huyết thanh.
Thiếu máu ở người bệnh điều trị bằng Zidovudin
Liều ban đầu được khuyên dùng để điều trị thiếu máu cho người bệnh nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin là 100 đơn vị/kg tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da, 3 lần/tuần trong 8 tuần. Nếu sau 8 tuần mà kết quả chưa tốt thì có thể tăng thêm từ 50 đến 100 đơn vị cho mỗi kg, 3 lần/tuần.
Thiếu máu do hóa trị liệu ung thư
Cần phải bắt đầu với liều 150 đơn vị/kg tiêm dưới da, ba lần/tuần. Nếu sau 8 tuần mà kết quả chưa tốt thì có thể tăng liều lên tới mức 300 đơn vị/kg. Dùng liều cao hơn cũng không tăng hiệu quả. Trong quá trình điều trị, nếu hematocrit cao hơn 40% thì phải tạm ngừng dùng erythropoietin cho đến khi hematocrit giảm xuống thấp hơn 36%, sau đó cần giảm 25% liều và điều chỉnh lại.
Người bệnh phẫu thuật
Erythropoietin được chỉ định để điều trị người bệnh thiếu máu (hemoglobin từ 10 đến 13 g/decilít) chuẩn bị phẫu thuật chọn lọc (không phải tim hoặc mạch máu) nhằm giảm nhu cầu phải truyền máu dị gen; hoặc người bệnh có nguy cơ cao mất máu nhiều cần phải được truyền máu trước, trong, và sau phẫu thuật. Liều khuyên dùng là 300 đơn vị/kg/ngày, tiêm dưới da 10 ngày trước khi mổ, vào hôm mổ và 4 ngày sau phẫu thuật. Một cách khác là tiêm dưới da 600 đơn vị/kg, tuần một lần (trước ngày mổ 21, 14, và 7 ngày) thêm liều thứ tư vào hôm mổ. Cần phải bổ sung sắt.
Erythropoietin tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch (300 đơn vị/kg/ngày cho đến khi có đáp ứng thích hợp, sau đó 150 đơn vị/kg cách một ngày) trong 3 đến 10 ngày, kết hợp với folat, cyanocobalamin, uống hoặc tiêm sắt và tăng cường dinh dưỡng có thể làm hemoglobin hay hematocrit tăng mỗi ngày lên 5% hoặc hơn nữa.
Với những người bệnh bị thiếu máu rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng mà không muốn hoặc không thể truyền máu được thì vẫn có thể cho dùng erythropoietin, mặc dù điều này chỉ có ý nghĩa nhân đạo vì không có gì đảm bảo trước là người bệnh có thể hồi phục.
Cách dùng
Không lắc mạnh vì lắc mạnh có thể làm biến chất glycoprotein, làm cho nó mất hoạt tính sinh học. Dùng kỹ thuật vô trùng trong khi tiêm thuốc. Bỏ phần chưa dùng hết, không pha loãng hoặc dùng với các dung dịch khác.

 

Đối tường đặc biệt

Phụ nữ có thai và cho con bú 
Thai nghén: Mang thai loại C: Chưa có những nghiên cứu thỏa đáng và đối chứng tốt ở phụ nữ mang thai. Erythropoietin chỉ dùng trong khi mang thai khi lợi ích mang lại cho bà mẹ cao hơn nguy cơ cho thai nhi.
Bà mẹ nuôi con bú: Không rõ erythropoietin có qua được sữa mẹ hay không. Vì nhiều thuốc qua được sữa mẹ, nên thận trọng khi dùng erythropoietin cho bà mẹ nuôi con bú.
Sử dụng trên bệnh nhân Bệnh thận mạn
Những bệnh nhân suy thận mãn không cần thẩm phân: Phải kiểm tra huyết áp và hematocrit cũng thường xuyên như những bệnh nhân thẩm phân.
Huyết học: Phải có đủ thời gian để xác định đáp ứng của một bệnh nhân đáp ứng với liều erythropoietin trước khi điều chỉnh liều vì thời gian cần thiết để tạo hồng cầu và thời gian bán thải của hồng cầu, nên phải cần 2-6 tuần để điều chỉnh liều (bắt đầu, tăng, giảm, hoặc ngừng) và thay đổi quan trọng trong hematocrit.
Xét nghiệm: Nên đo hematocrit hai lần một tuần cho đến khi ổn định trong dãy liều đề nghị và xác định liều duy trì. Sau đó kiểm tra hematocrit thường xuyên. Kiểm tra công thức máu đầy đủ với từng loại huyết cầu và tiểu cầu trong suốt nghiên cứu lâm sàng. Đã gặp sự tăng nhẹ tiểu cầu và bạch cầu. Mặc dù những thay đổi này có ý nghĩa thống kê, nhưng không có ý nghĩa lâm sàng và các trị số vẫn nằm trong dãy bình thường. Ở những bệnh nhân suy thận mãn, những trị số hóa học huyết thanh (kể cả nitơ [BUN], acid uric, creatinine, phosphor, và kali) phải được kiểm tra thường xuyên.
Ăn kiêng: Khi hematocrit tăng và bệnh nhân cảm thấy tăng hạnh phúc và chất lượng cuộc sống, tầm quan trọng của sự tuân thủ với thẩm phân và chế độ ăn kiêng gia tăng. Đặc biệt, không thấy chứng tăng kali máu ở bệnh nhân suy thận mãn.
Quản lý sự thẩm phân: Điều trị bằng erythropoietin làm tăng hematocrit và giảm thể tích huyết tương, có thể ảnh hưởng đến hiệu suất thẩm phân. Trong khi thẩm phân lọc máu, bệnh nhân điều trị bằng erythropoietin có thể cần phải dùng heparin để dự phòng cục máu đông do chạy thận nhân tạo.
Chức năng thận: Ở những bệnh nhân CRF không thẩm phân, phải kiểm tra kỹ chức năng thận, cân bằng điện giải và dịch, vì cảm giác cải thiện hạnh phúc có thể làm một số bệnh nhân bắt đầu thẩm phân.

Chống chỉ định - thận trọng

Chống chỉ định
Cao huyết áp không kiểm soát được
Đã biết quá mẫn với những sản phẩm lấy từ tế bào động vật có vú.
Đã biết quá mẫn với Albumin (Người).
Thận trọng 
Phải thận trọng khi tiêm các sản phẩm sinh học trong trường hợp dị ứng hoặc các phản ứng không mong muốn khác trong các nghiên cứu lâm sàng, mặc dù đôi khi gặp nổi mẩn thoáng qua khi điều trị đồng thời erythropoietin; nhưng không gặp phản ứng sốc phản vệ nào.
Độ an toàn và hiệu quả của điều trị erythropoietin chưa được thiết lập ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc bệnh máu (ví dụ, thiếu máu tế bào hình liềm, hội chứng loạn sản tủy, hoặc rối loạn tăng đông máu).
Huyết học: Hiếm gặp sự trở nặng của chứng rối loạn chuyển hóa porphyrin hiếm khi gặp ở những bệnh nhân CRF điều trị bằng erythropoietin. Erythropoietin phải được dùng thận trọng ở những bệnh nhân đã biết rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Đáp ứng chậm hoặc giảm
Nếu bệnh nhân không đáp ứng hoặc duy trì đáp ứng với những liều trong dãy liều cho phép, phải cân nhắc và đánh giá những nguyên sinh bệnh sau đây:
Suy giảm sắt: Trên thực tế các bệnh nhân cuối cùng cũng cần điều trị bổ sung sắt.
Những quá trình nhiễm trùng, viêm, hoặc ác tính.
Mất máu không rõ nguyên nhân.
Bệnh máu (như thiếu máu vùng biển, thiếu máu khó trị, hoặc loạn sản tủy).
Suy giảm Vitamin: acid folic hoặc vitamin B₁₂.
Tán huyết.
Nhiễm độc nhôm.
Đánh giá sắt
Sự bão hòa transferrin ít nhất phải 20% và ferritin ít nhất 100 ng/mL. Trước khi bắt đầu và trong khi điều trị erythropoietin, phải đánh giá tình trạng sắt của bệnh nhân, kể cả sự bão hòa transferrin (sắt trong huyết thanh được phân chia bởi khả năng gắn với sắt). Trên thực tế các bệnh nhân cuối cùng cũng cần điều trị bổ sung sắt để làm tăng hoặc duy trì sự bão hòa transferrin, sẽ hỗ trợ đầy đủ sự tạo hồng cầu được kích thích bởi erythropoietin.

ADR

Tác dụng không mong muốn tương đối nhẹ và thường phụ thuộc vào liều. Tiêm tĩnh mạch hay gây ra tác dụng phụ hơn tiêm dưới da.
Thường gặp, ADR > 1/100
Toàn thân: Nhức đầu, phù, ớn lạnh và đau xương (triệu chứng giống cảm cúm) chủ yếu ở vào mũi tiêm tĩnh mạch đầu tiên.
Tuần hoàn: Tăng huyết áp, huyết khối nơi tiêm tĩnh mạch, cục đông máu trong máy thẩm tích, tiểu cầu tăng nhất thời.
Máu: Thay đổi quá nhanh về hematocrit, tăng kali huyết.
Thần kinh: Chuột rút, cơn động kinh toàn thể.
Da: Kích ứng tại chỗ, trứng cá, đau ở chỗ tiêm dưới da.
Hiếm gặp, ADR < 1/1000
Tuần hoàn: Tăng tiểu cầu, cơn đau thắt ngực.
Vã mồ hôi.

Tương tác thuốc

Không có bằng chứng về sự tương tác của erythropoietin với các thuốc khác trong những nghiên cứu lâm sàng.

Cơ chế tác dụng

Thuốc tác dụng tương tự như erythropoietin nội sinh, chủ yếu lên quá trình tạo hồng cầu do kích thích phát triển và biệt hóa các tế bào tủy xương tạo hồng cầu thông qua gắn với các receptor ở màng tế bào. Cụ thể, sau khi gắn với receptor, các epoetin có thể kích thích tổng hợp acid nucleic để tế bào tủy xương phân chia; đồng thời có thể ức chế những tế bào này chết theo chương trình khiến các tế bào tủy xương tiếp tục phát triển và biệt hóa thành hồng cầu. Thuốc cũng kích thích giải phóng hồng cầu lưới từ tủy xương vào máu để phát triển thành hồng cầu trưởng thành.

Chỉ định tại Việt Nam 

Thiếu máu ở những bệnh nhân suy thận mãn ở người lớn được thẩm phân lọc máu, thẩm phân phúc mạc và người lớn không thẩm phân
Điều trị thiếu máu ở bệnh nhân ung thư được hóa trị
Điều trị thiếu máu ở những bệnh nhân nhiễm HIV dùng Zidovudine
Làm giảm truyền máu dị sinh ở những bệnh nhân phẫu thuật

Liều dùng và cách dùng

Tác dụng điều trị của erythropoietin phụ thuộc vào liều; tuy nhiên liều cao hơn 300 đơn vị/kg, tuần ba lần không cho kết quả tốt hơn. Liều erythropoietin tối đa an toàn chưa được xác định. Dùng thêm sắt hoặc L-carnitin làm tăng đáp ứng với erythropoietin, do đó có thể giảm liều thuốc cần dùng để kích thích tạo hồng cầu.
Thiếu máu ở người bệnh suy thận mạn tính: Điều trị thiếu máu bằng erythropoietin cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh nhưng rất tốn kém.
- Tiêm tĩnh mạch: Liều ban đầu thường dùng là 50 - 100 đơn vị/kg, tuần ba lần. Cần giảm liều erythropoietin khi hematocrit đạt mức 30% tới 36% hay khi cứ mỗi hai tuần thì hematocrit tăng lên được trên 4%. Nếu sau 8 tuần điều trị mà hematocrit không tăng lên được 5 đến 6% và vẫn thấp hơn mức cần đạt thì cần phải tăng liều. Hematocrit không được tăng cao hơn 36%. Cần tính toán liều theo từng người bệnh; liều duy trì là từ 12,5 đến 525 đơn vị/kg, tuần ba lần. Liều dùng để điều trị thiếu máu ở người bệnh mắc bệnh thận ở giai đoạn cuối là từ 3 đơn vị/kg/liều đến 500 đơn vị/kg/liều, tuần ba lần; bắt đầu với liều thấp rồi tăng dần từng nấc tùy theo đáp ứng huyết học. Liều có thể tăng gấp hai lần liều trước và cách nhau từ 1 đến 2 tuần.
- Tiêm dưới da: Erythropoietin thường được dùng với liều ban đầu từ 50 - 100 đơn vị/kg, tuần ba lần. Cần giảm liều erythropoietin khi hematocrit đạt mức 30% tới 36% hay tăng trên 4% trong vòng 2 tuần. Cần phải tăng liều nếu sau 8 tuần điều trị mà hematocrit không tăng được 5 đến 6% và vẫn thấp hơn mức cần đạt. Hematocrit tăng phụ thuộc vào liều nhưng dùng liều cao hơn 300 đơn vị/kg, tuần ba lần cũng không cho kết quả tốt hơn. Cần tính liều theo từng trường hợp; mỗi tháng không nên thay đổi liều quá 1 lần, trừ khi có chỉ định lâm sàng. Có thể giảm liều duy trì mỗi tuần xuống từ 23% đến 52% khi tiêm dưới da hơn là tĩnh mạch. Liều tiêm dưới da để duy trì nồng độ hemoglobin ở mức 9,4 đến 10 g/decilít là từ 2800 đến 6720 đơn vị mỗi tuần; so với 8350 đến 20300 đơn vị mỗi tuần khi tiêm tĩnh mạch.
Erythropoietin có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch; nên dùng đường tĩnh mạch ở người bệnh phải thẩm phân. Tiêm dưới da phải mất nhiều ngày hơn để đạt tới nồng độ hemoglobin cần đạt so với tiêm tĩnh mạch.
Cũng có thể tiêm erythropoietin vào bắp thịt (cơ delta) với liều từ 4000 đến 8000 đơn vị, tuần một lần; hematocrit có thể tăng lên 30% đến 33%. Tiêm bắp ít đau hơn tiêm dưới da.
Liều khuyên dùng ở trẻ: Liều dùng ban đầu là 150 đơn vị/kg tiêm dưới da, tuần 3 lần; nếu hematocrit tăng lên đến mức 35%, giảm liều từng nấc 25 đơn vị/kg/liều và ngừng dùng thuốc nếu hematocrit đạt tới mức 40%. Cách dùng này an toàn và hiệu quả đối với trẻ em suy thận giai đoạn cuối thẩm phân màng bụng.
Điều chỉnh liều trong khi thẩm phân
- Lọc máu: Erythropoietin được dùng 12 giờ sau khi chạy thận nhân tạo xong.
- Thẩm phân phúc mạc: Cách dùng hữu hiệu là dùng thuốc một, hai hoặc ba lần một tuần. Sau khi dùng 2000 đến 8000 đơn vị, mỗi tuần một lần trong thời gian từ 2 đến 10 tháng, trung bình hematocrit tăng lên từ 20% đến 30%. Hoặc có thể dùng liều từ 60 đến 120 đơn vị/kg tiêm dưới da một tuần hai lần. Liều tiếp sau đó phải dựa theo đáp ứng hemoglobin. Liều cần dùng để duy trì nồng độ hemoglobin ở mức từ 11 đến 11,5 g/decilít là từ 12,5 đến 50 đơn vị/kg, 3 lần/tuần.
Khả dụng sinh học của erythropoietin dùng theo đường tiêm dưới da (22%) gấp 7 lần đường tiêm vào phúc mạc (3%); 3 đến 4 ngày sau khi tiêm dưới da, thuốc vẫn còn trong huyết thanh.
Thiếu máu ở người bệnh điều trị bằng Zidovudin
Liều ban đầu được khuyên dùng để điều trị thiếu máu cho người bệnh nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin là 100 đơn vị/kg tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da, 3 lần/tuần trong 8 tuần. Nếu sau 8 tuần mà kết quả chưa tốt thì có thể tăng thêm từ 50 đến 100 đơn vị cho mỗi kg, 3 lần/tuần.
Thiếu máu do hóa trị liệu ung thư
Cần phải bắt đầu với liều 150 đơn vị/kg tiêm dưới da, ba lần/tuần. Nếu sau 8 tuần mà kết quả chưa tốt thì có thể tăng liều lên tới mức 300 đơn vị/kg. Dùng liều cao hơn cũng không tăng hiệu quả. Trong quá trình điều trị, nếu hematocrit cao hơn 40% thì phải tạm ngừng dùng erythropoietin cho đến khi hematocrit giảm xuống thấp hơn 36%, sau đó cần giảm 25% liều và điều chỉnh lại.
Người bệnh phẫu thuật
Erythropoietin được chỉ định để điều trị người bệnh thiếu máu (hemoglobin từ 10 đến 13 g/decilít) chuẩn bị phẫu thuật chọn lọc (không phải tim hoặc mạch máu) nhằm giảm nhu cầu phải truyền máu dị gen; hoặc người bệnh có nguy cơ cao mất máu nhiều cần phải được truyền máu trước, trong, và sau phẫu thuật. Liều khuyên dùng là 300 đơn vị/kg/ngày, tiêm dưới da 10 ngày trước khi mổ, vào hôm mổ và 4 ngày sau phẫu thuật. Một cách khác là tiêm dưới da 600 đơn vị/kg, tuần một lần (trước ngày mổ 21, 14, và 7 ngày) thêm liều thứ tư vào hôm mổ. Cần phải bổ sung sắt.
Erythropoietin tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch (300 đơn vị/kg/ngày cho đến khi có đáp ứng thích hợp, sau đó 150 đơn vị/kg cách một ngày) trong 3 đến 10 ngày, kết hợp với folat, cyanocobalamin, uống hoặc tiêm sắt và tăng cường dinh dưỡng có thể làm hemoglobin hay hematocrit tăng mỗi ngày lên 5% hoặc hơn nữa.
Với những người bệnh bị thiếu máu rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng mà không muốn hoặc không thể truyền máu được thì vẫn có thể cho dùng erythropoietin, mặc dù điều này chỉ có ý nghĩa nhân đạo vì không có gì đảm bảo trước là người bệnh có thể hồi phục.
Cách dùng
Không lắc mạnh vì lắc mạnh có thể làm biến chất glycoprotein, làm cho nó mất hoạt tính sinh học. Dùng kỹ thuật vô trùng trong khi tiêm thuốc. Bỏ phần chưa dùng hết, không pha loãng hoặc dùng với các dung dịch khác.

 

Đối tường đặc biệt

Phụ nữ có thai và cho con bú 
Thai nghén: Mang thai loại C: Chưa có những nghiên cứu thỏa đáng và đối chứng tốt ở phụ nữ mang thai. Erythropoietin chỉ dùng trong khi mang thai khi lợi ích mang lại cho bà mẹ cao hơn nguy cơ cho thai nhi.
Bà mẹ nuôi con bú: Không rõ erythropoietin có qua được sữa mẹ hay không. Vì nhiều thuốc qua được sữa mẹ, nên thận trọng khi dùng erythropoietin cho bà mẹ nuôi con bú.
Sử dụng trên bệnh nhân Bệnh thận mạn
Những bệnh nhân suy thận mãn không cần thẩm phân: Phải kiểm tra huyết áp và hematocrit cũng thường xuyên như những bệnh nhân thẩm phân.
Huyết học: Phải có đủ thời gian để xác định đáp ứng của một bệnh nhân đáp ứng với liều erythropoietin trước khi điều chỉnh liều vì thời gian cần thiết để tạo hồng cầu và thời gian bán thải của hồng cầu, nên phải cần 2-6 tuần để điều chỉnh liều (bắt đầu, tăng, giảm, hoặc ngừng) và thay đổi quan trọng trong hematocrit.
Xét nghiệm: Nên đo hematocrit hai lần một tuần cho đến khi ổn định trong dãy liều đề nghị và xác định liều duy trì. Sau đó kiểm tra hematocrit thường xuyên. Kiểm tra công thức máu đầy đủ với từng loại huyết cầu và tiểu cầu trong suốt nghiên cứu lâm sàng. Đã gặp sự tăng nhẹ tiểu cầu và bạch cầu. Mặc dù những thay đổi này có ý nghĩa thống kê, nhưng không có ý nghĩa lâm sàng và các trị số vẫn nằm trong dãy bình thường. Ở những bệnh nhân suy thận mãn, những trị số hóa học huyết thanh (kể cả nitơ [BUN], acid uric, creatinine, phosphor, và kali) phải được kiểm tra thường xuyên.
Ăn kiêng: Khi hematocrit tăng và bệnh nhân cảm thấy tăng hạnh phúc và chất lượng cuộc sống, tầm quan trọng của sự tuân thủ với thẩm phân và chế độ ăn kiêng gia tăng. Đặc biệt, không thấy chứng tăng kali máu ở bệnh nhân suy thận mãn.
Quản lý sự thẩm phân: Điều trị bằng erythropoietin làm tăng hematocrit và giảm thể tích huyết tương, có thể ảnh hưởng đến hiệu suất thẩm phân. Trong khi thẩm phân lọc máu, bệnh nhân điều trị bằng erythropoietin có thể cần phải dùng heparin để dự phòng cục máu đông do chạy thận nhân tạo.
Chức năng thận: Ở những bệnh nhân CRF không thẩm phân, phải kiểm tra kỹ chức năng thận, cân bằng điện giải và dịch, vì cảm giác cải thiện hạnh phúc có thể làm một số bệnh nhân bắt đầu thẩm phân.

Chống chỉ định - thận trọng

Chống chỉ định
Cao huyết áp không kiểm soát được
Đã biết quá mẫn với những sản phẩm lấy từ tế bào động vật có vú.
Đã biết quá mẫn với Albumin (Người).
Thận trọng 
Phải thận trọng khi tiêm các sản phẩm sinh học trong trường hợp dị ứng hoặc các phản ứng không mong muốn khác trong các nghiên cứu lâm sàng, mặc dù đôi khi gặp nổi mẩn thoáng qua khi điều trị đồng thời erythropoietin; nhưng không gặp phản ứng sốc phản vệ nào.
Độ an toàn và hiệu quả của điều trị erythropoietin chưa được thiết lập ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc bệnh máu (ví dụ, thiếu máu tế bào hình liềm, hội chứng loạn sản tủy, hoặc rối loạn tăng đông máu).
Huyết học: Hiếm gặp sự trở nặng của chứng rối loạn chuyển hóa porphyrin hiếm khi gặp ở những bệnh nhân CRF điều trị bằng erythropoietin. Erythropoietin phải được dùng thận trọng ở những bệnh nhân đã biết rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Đáp ứng chậm hoặc giảm
Nếu bệnh nhân không đáp ứng hoặc duy trì đáp ứng với những liều trong dãy liều cho phép, phải cân nhắc và đánh giá những nguyên sinh bệnh sau đây:
Suy giảm sắt: Trên thực tế các bệnh nhân cuối cùng cũng cần điều trị bổ sung sắt.
Những quá trình nhiễm trùng, viêm, hoặc ác tính.
Mất máu không rõ nguyên nhân.
Bệnh máu (như thiếu máu vùng biển, thiếu máu khó trị, hoặc loạn sản tủy).
Suy giảm Vitamin: acid folic hoặc vitamin B₁₂.
Tán huyết.
Nhiễm độc nhôm.
Đánh giá sắt
Sự bão hòa transferrin ít nhất phải 20% và ferritin ít nhất 100 ng/mL. Trước khi bắt đầu và trong khi điều trị erythropoietin, phải đánh giá tình trạng sắt của bệnh nhân, kể cả sự bão hòa transferrin (sắt trong huyết thanh được phân chia bởi khả năng gắn với sắt). Trên thực tế các bệnh nhân cuối cùng cũng cần điều trị bổ sung sắt để làm tăng hoặc duy trì sự bão hòa transferrin, sẽ hỗ trợ đầy đủ sự tạo hồng cầu được kích thích bởi erythropoietin.

ADR

Tác dụng không mong muốn tương đối nhẹ và thường phụ thuộc vào liều. Tiêm tĩnh mạch hay gây ra tác dụng phụ hơn tiêm dưới da.
Thường gặp, ADR > 1/100
Toàn thân: Nhức đầu, phù, ớn lạnh và đau xương (triệu chứng giống cảm cúm) chủ yếu ở vào mũi tiêm tĩnh mạch đầu tiên.
Tuần hoàn: Tăng huyết áp, huyết khối nơi tiêm tĩnh mạch, cục đông máu trong máy thẩm tích, tiểu cầu tăng nhất thời.
Máu: Thay đổi quá nhanh về hematocrit, tăng kali huyết.
Thần kinh: Chuột rút, cơn động kinh toàn thể.
Da: Kích ứng tại chỗ, trứng cá, đau ở chỗ tiêm dưới da.
Hiếm gặp, ADR < 1/1000
Tuần hoàn: Tăng tiểu cầu, cơn đau thắt ngực.
Vã mồ hôi.

Tương tác thuốc

Không có bằng chứng về sự tương tác của erythropoietin với các thuốc khác trong những nghiên cứu lâm sàng.